Vai trò của rừng đối với môi trường và đời sống

Vai trò của rừng bao trùm cả môi trường sinh thái lẫn đời sống kinh tế của con người. Rừng giữ vai trò sống còn với khí hậu, đất và con người. Theo số liệu đo đạc tại Việt Nam giai đoạn 1990-2010, mỗi hecta rừng lưu giữ từ 1 đến hơn 150 tấn carbon. Mức chênh lệch này tùy thuộc vào loại rừng và vùng.

Rừng cũng điều hòa nguồn nước và nuôi dưỡng hàng nghìn loài sinh vật. Bài viết sau đây sẽ phân tích giá trị của rừng cho hệ sinh thái, kinh tế và cộng đồng dân cư.

Vai trò của rừng đối với môi trường sinh thái là gì?

Vai trò của rừng đối với môi trường sinh thái thể hiện qua ba chức năng chính. Đó là điều hòa khí hậu, bảo vệ đất – nguồn nước và duy trì đa dạng sinh học. Ba chức năng này liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng một hệ sinh thái rừng.

Tán rừng che phủ giúp giảm nhiệt độ bề mặt đất. Khu vực có rừng thường mát hơn rõ rệt so với vùng đất trống. Độ ẩm không khí dưới tán rừng cũng cao hơn.

Điều này tạo ra vi khí hậu ổn định cho cả vùng đất xung quanh. Các khu vực mất rừng thường ghi nhận nhiệt độ tăng. Lượng mưa tại đó cũng thay đổi thất thường hơn trước.

Ngoài điều hòa khí hậu, rừng còn là nền tảng duy trì chu trình nước tự nhiên. Nước mưa rơi xuống tán rừng được giữ lại một phần. Nước thấm dần xuống đất và bổ sung cho mạch nước ngầm. Nhờ vậy, nước không chảy tràn ngay lập tức và gây lũ.

rung la gi 1
Hình 1: Rừng là gì?

Rừng điều hoà khí hậu và hấp thụ CO2 như thế nào?

Rừng điều hòa khí hậu bằng cách hấp thụ CO₂, lưu trữ carbon trong sinh khối và đất rừng, đồng thời giải phóng oxy thông qua quá trình quang hợp. Lá cây sử dụng năng lượng ánh sáng để chuyển hóa CO₂ và nước thành đường. Carbon sau đó được tích lũy trong thân, cành, rễ và đất rừng. Cơ chế này khẳng định vai trò của rừng trong việc điều hòa khí hậu toàn cầu.

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc có tên viết tắt là FAO. FAO công bố Đánh giá Tài nguyên Rừng Toàn cầu 2025 vào ngày 21/10/2025. Theo báo cáo này, rừng toàn cầu hấp thụ khoảng 3,6 tỷ tấn CO2 mỗi năm trên đất rừng. Con số này áp dụng cho giai đoạn 2021 – 2025.

Nạn phá rừng gây phát thải khoảng 2,8 tỷ tấn CO2 mỗi năm trong cùng giai đoạn. Sau khi trừ phát thải này, rừng toàn cầu hấp thụ ròng khoảng 0,8 tỷ tấn CO2 mỗi năm.

Rừng vẫn là giải pháp hấp thụ, lưu trữ carbon quan trọng trong ứng phó biến đổi khí hậu. Giải pháp này không cần công nghệ phức tạp.

Tại Việt Nam, lượng CO2 rừng hấp thụ trung bình mỗi năm cũng tăng. Giai đoạn 1995 – 2000, con số này là 44,5 triệu tấn. Giai đoạn 2010 – 2020, con số tăng lên 69,9 triệu tấn.

Trong giai đoạn này, lượng phát thải của ngành lâm nghiệp giảm còn 30,6 triệu tấn mỗi năm. Ngành lâm nghiệp Việt Nam đạt mức phát thải ròng trung bình khoảng -39,3 triệu tấn CO2 mỗi năm. Đây là ngành duy nhất tại Việt Nam đạt phát thải ròng âm trong giai đoạn 2010-2020.

Mức độ hấp thụ CO2 khác nhau giữa các loại rừng. Nghiên cứu của tác giả Ngô Đình Quế (2006) đo đạc khả năng này ở rừng thông nhựa. Kết quả cho thấy một khu rừng thông nhựa 13 tuổi hấp thụ khoảng 163 tấn CO2 mỗi hecta tại thời điểm đo.

Nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Bẩy đo đạc trữ lượng carbon rừng tại nhiều vùng của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2010. Kết quả cho thấy rừng lá rộng thường xanh ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ có trữ lượng carbon cao nhất Việt Nam. Trữ lượng này vượt quá 150 tấn carbon trên mỗi hecta.

Rừng bảo vệ đất, nguồn nước và đa dạng sinh học ra sao?

Rừng bảo vệ đất và nguồn nước nhờ hệ thống rễ cây, đồng thời duy trì đa dạng sinh học bằng cách tạo môi trường sống cho nhiều loài động, thực vật.

Rễ cây bám chặt vào lớp đất mặt. Điều này hạn chế xói mòn khi mưa lớn. Rễ cây cũng giảm nguy cơ sạt lở trên địa hình đồi núi. Tán lá và lớp thảm mục trên mặt đất làm chậm dòng chảy bề mặt. Nước nhờ đó thấm sâu xuống đất thay vì cuốn trôi lớp đất màu mỡ.

Khi rừng đầu nguồn bị chặt phá, khả năng giữ nước của lưu vực suy giảm nhanh chóng. Mất rừng đầu nguồn là một trong những nguyên nhân khiến lũ quét xảy ra thường xuyên hơn. Mất rừng cũng làm tăng nguy cơ sạt lở đất tại các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung.

Rừng là môi trường sống chính của phần lớn loài động, thực vật trên cạn. Theo báo cáo Hiện trạng Rừng Thế giới 2020 của FAO và UNEP, khoảng 80% loài lưỡng cư trên thế giới sống trong rừng. Cùng báo cáo này ghi nhận rừng là nơi sinh sống của 75% loài chim và 68% loài thú trên cạn.

Tại Việt Nam, nhiều loài trong Sách Đỏ Việt Nam sinh sống chủ yếu trong rừng tự nhiên còn nguyên vẹn. Đó là các loài động vật như sao la, voi, bò tót. Đó cũng là các loài gỗ quý như đinh, lim, sến, táu.

Vai trò của rừng đối với đời sống và kinh tế con người là gì?

Rừng có vai trò quan trọng đối với đời sống và kinh tế con người nhờ cung cấp nguyên liệu sản xuất, tạo nguồn thu nhập cho người dân, góp phần phòng chống thiên tai và phát triển du lịch sinh thái.

Rừng cung cấp cho con người:

  • Gỗ nguyên liệu phục vụ xây dựng, sản xuất đồ nội thất và giấy.
  • Lâm sản ngoài gỗ như nhựa, mật ong, nấm, măng và dược liệu quý.
  • Nguồn thực phẩm tự nhiên cho các cộng đồng sống gần rừng.
  • Nguồn gen quý phục vụ nghiên cứu khoa học và y học.

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi, rừng là nguồn thu nhập chính. Người dân tham gia khai thác hợp pháp lâm sản. Họ cũng trồng và bảo vệ rừng theo hợp đồng khoán.

Công việc này giúp hàng triệu hộ dân trang trải chi phí sinh hoạt. Nó cũng giúp giảm nghèo bền vững. Đây là minh chứng rõ nét cho vai trò của rừng đối với đời sống kinh tế người dân miền núi.

vai tro cua rung doi voi nen kinh te 1
Hình 2: Vai trò của rừng đối với nền kinh tế

Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố hiện trạng rừng năm 2024 theo Quyết định số 561/QĐ-BNNMT. Tính đến ngày 31/12/2024, tổng diện tích rừng cả nước đạt 14.874.302 ha. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm 10.133.952 ha và rừng trồng chiếm 4.740.350 ha.

Diện tích rừng đủ tiêu chí tính tỷ lệ che phủ là 13.927.309 ha. Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc năm 2024 đạt 42,03%. Theo Quyết định số 816/QĐ-BNN-KL của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khi đó, tỷ lệ che phủ năm 2023 là 42,02%. Điều này cho thấy công tác bảo vệ, phát triển rừng tại Việt Nam mang lại kết quả cụ thể.

Rừng tự nhiên và rừng trồng đóng góp những giá trị khác nhau cho nền kinh tế và môi trường. Bảng dưới đây so sánh hai loại rừng này trên một số tiêu chí quan trọng.

Tiêu chí

Rừng tự nhiên

Rừng trồng

Diện tích tại Việt Nam (2024)

10.133.952 ha

4.740.350 ha

Đa dạng sinh học

Rất cao, nhiều tầng tán và nhiều loài bản địa

Thấp hơn, chủ yếu một hoặc vài loài cây

Trữ lượng carbon

Cao và ổn định lâu dài, có nơi vượt 150 tấn/ ha

Tăng nhanh trong giai đoạn sinh trưởng đầu

Thời gian phục hồi sau khai thác

Hàng chục đến hàng trăm năm

Khoảng 4 – 15 năm tùy loài cây và mục đích khai thác

Giá trị kinh tế trực tiếp

Lâm sản quý, dược liệu, gỗ lớn

Gỗ nguyên liệu, dăm gỗ, giấy

Ngoài giá trị kinh tế, rừng phòng hộ đầu nguồn giúp giảm sức tàn phá của bão. Rừng ven biển cũng có vai trò tương tự. Cả hai loại rừng đều hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ khu dân cư khỏi thiên tai.

Rừng ngập mặn ven biển làm giảm chiều cao sóng biển trước khi vào đất liền. Một nghiên cứu năm 2006 tại bờ biển Vinh Quang, miền Bắc Việt Nam, đo được mức giảm 26 – 45% chiều cao sóng trên mỗi 100 mét rừng. Điều này giảm thiệt hại khi có bão lớn đổ bộ.

Du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia tạo ra nguồn thu ổn định. Khu bảo tồn thiên nhiên cũng mang lại nguồn thu cho địa phương. Du khách đến tham quan rừng nguyên sinh và trải nghiệm hệ sinh thái tự nhiên.

Hoạt động này tạo việc làm cho người dân bản địa. Nó cũng nâng cao ý thức bảo vệ rừng trong cộng đồng.

Kết Luận

Vai trò của rừng bao gồm điều hòa khí hậu và hấp thụ CO2. Rừng cũng bảo vệ đất, nguồn nước và duy trì đa dạng sinh học. Rừng cung cấp sinh kế cho hàng triệu người dân.

Rừng Việt Nam hiện có hơn 14,8 triệu ha. Trong đó, diện tích đủ tiêu chí đạt tỷ lệ che phủ 42,03%. Diện tích này đóng góp trực tiếp vào mức phát thải ròng âm của ngành lâm nghiệp. Bảo vệ rừng bền vững giúp duy trì các giá trị này cho thế hệ sau.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0909 79 44 45
Liên hệ