Xử lý nước thải ngành mạ điện

Mạ điện là một trong những ngành ô nhiễm rất cao bởi các tác nhân chính sau: hơi hóa chất độc hại, nước thải có độ pH thay đổi từ thấp đến cao chứa nhiều ion kim loại nặng gây nguy hiểm cho con người. Vì vậy cần phải có một hệ thống xử lý hiệu quả hạn chế tác động tới môi trường Envico xin hân hạnh giới thiệu với các bạn về hệ thống xử lý nước thải ngành mạ điện.

1. Tổng quan về nước thải:

Mạ điện kim loại ra đời và phát triển hàng trăm năm nay, ngành mạ không chỉ bảo vệ bề mặt vật liệu mà nó còn có tác dụng trang trí. Tùy theo mục đích sử dụng mà có nhiều kỹ thuật phủ mạ khác nhau: hiện nay phổ biến nhất trong ngành mạ tiểu thủ công nghiệp là phủ mạ các kim loại như đồng, kẽm, niken, crom, vàng và bạc. Các công nghệ mạ điện kim loại điều theo các công đoạn cơ bản sau:

gc

2. Thành phần và tính chất của nước thải:

– Thành phần nước thải:

tp md

– Tính chất:

Đặc trưng của nước thải ngành mạ điện có chứa hàm lượng cao các muối vô cơ và kim loại nặng. Tùy theo kim loại có lớp mạ mà nguồn ô nhiễm chính là đồng, kẽm, niken,…và cũng tùy thuộc vào loại muối kim loại sử dụng mà nước thải có chứa các độc tố khác nhau như  xianua, muối sunfat, cromat, amonium. Trong nước thải có sự thay đổi pH rất rộng từ nước thải axit (pH 2-3) đến rất kiềm (pH 10-11). Các chất hữu cơ thường rất ít trong nước thải, phần đóng góp đó chính là các chất tạo bóng, chất hoạt động bề mặt, nên chỉ số BOD, COD, nước mạ điện thường nhỏ , không thuộc đối tượng xử lý. Đối tượng xử lý chính trong nước thải mạ điện là các ion vô cơ đặc biệt là các muối kim loại nặng như crom, niken, kẽm, xianua, nhôm, sắt.

3. Công nghệ xử lý:

cnxl

Thuyết minh

Nước thải từ các khu vực sản xuất được thu gom tập trung dẫn qua song chắn rác trước khi tập trung về bể thu gom. Nước thải từ bể thu gom được bơm lên các hạng mục công trình đơn vị khác của hệ thống xử lý trước khi xả ra nguồn tiếp nhận Chức năng của các hạng mục công trình trong hệ thống cụ thể như sau:

Song chắn rác để loại ra bỏ tất cả các loại rác thô có trong nước thải có thể gây tắc nghẽn đường ống, làm hư hại máy bơm và làm giảm hiệu quả xử lý của giai đoạn sau. Vì vậy cần thiết phải bố trí thiết bị tách rác thô nhằm loại bỏ rác thô có kích thướt lớn có trong nước thải.

Nước thải xi mạ từ các khu vực sản xuất được dẫn về bể thu gom. Bể thu gom là công trình chuyển tiếp giữa điểm phát sinh nước thải và trạm xử lý. Bể thu gom có nhiệm vụ tiếp nhận, trung chuyển và tận dụng được cao trình của các công trình đơn vị phía sau. Nước thải từ bể thu gom được bơm nước thải bơm lên bể điều hòa.

Tại bể điều hòa, máy khuấy trộn chìm sẽ hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu. Bể điều hòa có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào hệ thống xử lý

Nước thải ở bể điều hòa được bơm qua bể phản ứng. Bơm định lượng có nhiệm vụ châm hóa chất NaHSO4, FeSO4 vào bể với liều lượng nhất định và được kiểm soát chặt chẽ. Dưới tác dụng của hệ thống cánh khuấy với tốc độ lớn được lắp đặt trong bể, các hóa chất được hòa trộn nhanh và đều vào trong nước thải. Hỗn hợp nước thải này tự chảy qua bể keo tụ tạo bông.

Nhờ cánh khuấy khuấy trộn hóa chất với dòng nước thải để cho quá trình phản ứng xảy ra nhanh hơn. Moteur cánh khuấy được thiết kế với vận tốc khuấy 120-140 vòng/phút nhằm tạo ra dòng chảy xoáy, tạo điều kiện cho hóa chất phản ứng, xúc tác quá trình chuyển Cr3+ thành Cr6+ và hóa chất chỉnh pH nhằm kết tủa các kim loại có trong nước thải xi mạ hoàn toàn hình thành nên những bông cặn. Nhờ có chất trợ keo tụ bông mà các bông cặn hình thành kết dính với nhau tạo thành những bông cặn lớn hơn có tỉ trọng lớn hơn tỉ trọng của nước nhiều lần nên rất dễ lắng xuống đáy thiết bị và tách ra khỏi dòng nước thải. Nước thải từ thiết bị keo tụ, tạo bông tiếp tục tự chảy qua thiết bị lắng 1.

Nước thải từ thiết bị keo tụ + tạo bông được dẫn vào ống phân phối nhằm phân phối đều trên toàn bộ mặt diện tích ngang ở đáy thiết bị. Ống phân phối được thiết kế sao cho nước khi ra khỏi ống và đi lên với vận tốc chậm nhất (trong trạng thái tĩnh), khi đó các bông cặn hình thành có tỉ trọng đủ lớn thắng được vận tốc của dòng nước thải đi lên sẽ lắng xuống đáy bể lắng. Hàm lượng cặn (SS) trong nước thải ra khỏi thiết bị lắng giảm 70 – 80%. Cặn lắng ở đáy thiết bị lắng được xả định kỳ về bể chứa bùn.

Một số bông cặn và bọt khí trong nước không lắng xuống đáy thiết bị mà sẽ nổi lên trên mặt nước. Nhờ có hệ thống đập thu nước và chắn bọt mà các bông cặn và bọt khí không theo nước ra ngoài được. Các bông cặn và bọt khí được giữ ở mặt nước và được xả ngoài qua qua hệ thống phểu thu bọt đến sân phơi bùn hóa lý.

Phần nước trong trên mặt được tập trung chảy tràn vào máng thu nước & được dẫn về bể trung gian.

Bể điều hòa là nơi tập trung nước thải sau quá trình xử lý hóa lý để tiếp tục công đoạn lọc áp.

Bể lọc áp lực gồm các lớp vật liệu: sỏi đỡ, cát thạch anh và than hoạt tính để loại bỏ các hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tố dạng vết, những chất khó hoặc không phân giải sinh học và halogen hữu cơ nhằm xử lý các chỉ tiêu đạt yêu cầu quy định.

Các doanh nghiệp, công ty đang có nhu cầu tư vấn “Thiết kế, lắp đặt, bảo trì hệ thống xử lý nước thải ngành mạ điện” hãy liên hệ với Công ty môi trường Envico để được sản phẩm chất lượng và dịch vụ uy tín nhất.

Công ty Cổ Phần Công Nghệ Môi Trường Envico

Xử lý nước thải ngành mạ điện
Tin tức liên quan

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *