Home » Tin tức »

Hệ thống xử lý nước thải sản xuất cồn từ mật rỉ đường

Công ty môi trường Envico công ty xử lý nước thải chuyên nghiệp với các chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm của các trường đại học như ĐH Nông Lâm, ĐH Quốc Gia.. Và thực hiện rất nhiều dự án xử lý nước thải. Hôm nay, Envico trân trọng giới thiệu với các độc giả về Hệ thống xử lý nước thải sản xuất cồn từ mật rỉ đường”

1.Tổng quan về ngành mật rỉ đường

Trong quá trình sản xuất của ngành công nghiệp mía đường, ngoài sản phẩm chính là đường kết tinh còn thu được sản phẩm phụ là mật rỉ. Mật rỉ được sử dụng làm nguyên liệu trong công nghiệp lên men để sản xuất cồn (Ethanol), một loại nguyên liệu quan trong được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp. Song song với đó là việc sản sinh ra một lượng lớn nước thải (khoảng 3 m3/1 tấn mật rỉ). Nước thải từ ngành công nghiệp sản xuất cồn thuộc loại nước thải ô nhiễm nặng, hàm lượng hữu cơ rất cao (ở dạng đậm đặc nước thải có COD từ 50.000 mg/l đến 100.000 mg/l), pH giá trị rất thấp (từ 4,2 đến 4,5), ngoài ra nhiệt độ cũng khá cao (từ 75 độ C đến 85 độ C). Do đó, việc giảm thiểu nồng độ ô nhiễm đạt tiêu chuẩn là hết sức khó khăn, đòi hỏi phải kết hợp nhiều phương pháp và nhiều ban ngành.

2. Tổng quan về công nghệ sản xuất

Nguyên liệu: Mật rỉ đường là thứ phẩm trong quá trình sản xuất đường (là chất lỏng đặc sánh lại sau khi đã rút đường bằng phương pháp cô và kết tinh, chiếm tỷ lệ 3 – 5% tuỳ thuộc vào chất lượng mía, điều kiện canh tác và điều kiện sản xuất. Có thể thay rỉ đường bằng các loại ngũ cốc giàu tinh bột như: khoai mì, bắp, gạo, … Tuy nhiên, rỉ đường thường được sử dụng nhất vì giá thành rẻ và dễ hòa tan thành nước tạo thành dịch lỏng.

Quy trình sản xuất cồn từ mật rỉ đường có thể mô tả như sau:

– Chuẩn bị dịch đường lên men

Đầu tiên là quá trình chuẩn bị dịch đường lên men: giai đoạn này bao gồm pha loãng dịch đường và loại bỏ các độc tố (chất màu, chất keo) ảnh hưởng đến quá trình lên men của nấm men. Để loại bỏ những chất này, người ta thường sử dụng H2SO4 đậm đặc

Tiếp theo là ủ và lên men mật rỉ đường ở điều kiện thích hợp: Rỉ đường được ủ lên men ở nhiệt độ 25 – 27 độ C trong các bồn lên men kín. Nấm men được sử dụng là nấm men Saccharomyces cerevisea. Ngay sau khi hàm lượng đường trong dung dịch lên men giảm xuống còn 5.5 – 6.0 g/ 100ml thì cho vi khuẩn Butylic granulobacter vào (2 – 3% thể tích dịch) và sau đó giữ nhiệt độ lên men ở 29 – 30 độ C trong thời gian 2 ngày ở pH = 5. Dịch lên men có chứa 4.8 – 5.8% rượu, được tách sinh khối nấm men và chưng cất.

– Chưng cất dịch lên men:

Nhằm tách cồn và các chất dễ bay hơi ra khỏi dung dịch: người ta thường chưng cất cồn trong những tháp chưng cất làm từ kim loại. Sau khi chưng cất đợt 1, ta thu được cồn thô. Cồn thô là loại cồn chứa hàm lượng cồn không cao (nồng độ khoảng 40o), ngoài ra còn chứa khá nhiều chất khi chưng cất bị cuốn theo vào cồn.

Sau khi chưng cất lần 2, cồn được tách khỏi dầu cao phân tử, loại bớt nước, khi đó ta thu được cồn có nồng độ cao khoảng 96o-98o.

Hệ thống chưng cất bao gồm:

+ Tháp chưng cất.

+ Thiết bị ngưng tụ hồi lưu.

+ Thiết bị làm lạnhquy trinh sx con

3. Nguồn gốc phát sinh nước thải

Nước thải chủ yếu phát sinh từ quá trình sau chưng cất, khi hoàn thành chưng cất thu được cồn, thành phần cặn còn lại trở thành nước thải. Ngoài ra nước thải còn phát sinh từ quá trình vệ sinh máy móc thiết bị, bảo trì bảo dưỡng dây chuyền công nghệ. Theo nghiên cứu cứ tiêu thụ hết 1 tấn mật rỉ đường thì phát sinh khoảng 3 m3 nước thải.

 4. Thành phần tính chất nước thải

Nước thải của ngành công nghiệp sản xuất cồn chứa hàm lượng chất hữu cơ rất cao, chủ yếu là xác nấm men, carbonhydate, một số hợp chất hữu cơ khó phân hủy, chất tạo màu, andehyde, phenol, melanine, độ đục lớn, có màu vàng đậm, mùi đường và mùi chua đặc trưng, nhiệt độ cao (75-85oC).

Khi nước thải mới được lấy ra từ tháp chưng cất thường khá nóng, đậm mùi đường và có màu đen.

Sau khoảng 2 ngày, nước thải trở nên chua, có màu vàng đậm, có váng nổi màu trắng trên bề mặt, do khi được lấy ra từ tháp chưng cất nước thải có cuốn theo ra một ít nấm men vì thế nấm men tiếp tục phân hủy tạo khí CO2 nên có hiện tượng sủi bọt khí li ti.

Sau đó khoảng 1 tuần nước thải trở nên có mùi hăng và hôi nồng.

Qua phân tích mẫu nước thải ở một số nhà máy sản xuất cồn cho kết quả như sau:

TT
       Thông số
       Đơn vị
                Nước thải
Trước khi xử lý
Sau khi xử lý
1
pH
4,3
6,2
2
SS
mg/L
2.360
210
3
COD
mg/L
76.000
300-400
4
BOD5
mg/L
26.000
80-100
5
Tổng N
mg/L
340
14
6
Tổng P
mg/L
27
0,05
7
Tổng Coliforms
MPN/100mL
60.000
5.000

5. Công nghệ xử lý nước thải

Căn cứ vào tính chất nước thải, nhận thấy đối tượng xử lý chính trong nước thải sản xuất cồn bao gồm: hàm lượng chất hữu cơ, độ màu, độ đục, Nitơ, Phospho và mùi. Với đặc điểm nước thải như vậy, công nghệ xử lý có thể áp dụng theo sơ đồ sau:

so do cong nghe sx con

6. Thuyết minh sơ đồ công nghệ

Nước thải từ các khu sản xuất và sinh hoạt được thu gom vào hệ thống cống dẫn vào trạm xử lý. Đầu tiên nước thải cho vào lưới chắn rác để loại bỏ rác thải có kích thước lớn. Sau đó rác được thu gom và chở đến bãi rác để xử lý. Nước thải qua bể làm lạnh, tại đây nước thải được làm lạnh bằng hệ thống điều nhiệt tuần hoàn nhanh chóng, ổn định. Sau đó nước thải được đưa qua bể phân hủy kỵ khí, tại đây  dòng nước thải được chuyển động từ dưới lên trên đi qua lớp bùn đệm bùn trong đó bao gồm các sinh khối được hình thành dưới dạng hạt nhỏ hoặc hạt lớn. Nước thải tiếp tục được chảy qua bể trung gian, tại bể trung gian dùng máy đo pH Control  để kiểm tra pH, Nước thải được bơm qua bể sinh học hiếu khí Bể có nhiệm vụ xử lý triệt để các chất hữu cơ còn lại trong nước. Trong bể bùn hoạt tính diễn ra quá trình oxy hóa sinh hóa các chất hữu cơ hòa tan và dạng keo trong nước thải dưới sự tham gia của vi sinh vật hiếu khí. Trong bể có hệ thống sục khí trên khắp diện tích bể nhằm cung cấp ôxy, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật hiếu khí sống, phát triển và phân giải các chất ô nhiễm. Vi sinh vật hiếu khí sẽ tiêu thụ các chất hữu cơ dạng keo và hòa tan có trong nước để sinh trưởng. Vi sinh vật phát triển thành quần thể dạng bông bùn dễ lắng gọi là bùn hoạt tính. Hỗn hợp nước và bùn hoạt tính hình thành từ bể sinh học hiếu khí được dẫn đến Bể lắng 2. Nước thải sau xử lý sinh học có mang theo bùn hoạt tính cần phải loại bỏ trước khi đến các công trình xử lý tiếp theo, vì vậy Bể lắng 2 có nhiệm vụ lắng và tách bùn hoạt tính ra khỏi nước thải. Tại đây nước được đưa vào ống trung tâm đi xuống đáy bể và đi ngược trở lên và được thu vào máng thu. Phần bùn được lắng xuống đáy bể. Lượng bùn dư sẽ được bơm sang bể chứa bùn sinh học chờ xử lý.

Môi Trường Envico là công ty xử lý nước thải được nhiều khách hàng tin tưởng và chọn lựa. Với phương châm làm việc hiệu quả, nhiệt tình góp phần chung tay bảo vệ môi trường, Môi Trường Envico luôn hết mình nỗ lực đưa ra những biện pháp xử lý hiệu quả nhất, phục vụ hết mình vì khách hàng! Hãy liên hệ ngay đến môi trường Envico để “xử lý nước thải sản xuất cồn từ mật rỉ đường”

Công ty Cp Công Nghệ Môi Trường Envico

Hệ thống xử lý nước thải sản xuất cồn từ mật rỉ đường
Tin tức liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *